Một công trình nghiên cứu chỉ thực sự có ý nghĩa khi những vấn đề được nhận diện từ thực tiễn tiếp tục được đặt trở lại trong thực tiễn, để tìm kiếm những giải pháp phù hợp và khả thi. Có những giá trị chỉ được nhận ra khi chúng ta đủ kiên nhẫn để tìm kiếm, đủ trân trọng để gìn giữ và đủ tầm nhìn để đưa chúng bước vào đời sống đương đại.
Từ nghiên cứu về tài liệu lưu trữ có giá trị tại các cơ sở thờ tự ở tỉnh Ninh Bình[1], một vấn đề lớn hơn được đặt ra là cần có một cuộc khảo sát toàn diện trên phạm vi tỉnh Ninh Bình hiện nay, trong đó tiếp tục mở rộng nhận diện đối với các địa bàn Ninh Bình và Hà Nam trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, nhằm hình thành bức tranh đầy đủ hơn về thực trạng tài liệu lưu trữ tư đang được cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng gìn giữ.
Bởi đằng sau mỗi đạo sắc phong, tấm mộc bản, cuốn gia phả, thần tích, bia đá, văn bản cổ hay những tài liệu gia tộc còn lưu giữ không chỉ là những thông tin của quá khứ, mà còn là một phần ký ức của cộng đồng, một lớp trầm tích văn hóa và một mạch nguồn lịch sử của vùng đất.
Vì vậy, khảo sát toàn diện không chỉ để biết có bao nhiêu tài liệu đang tồn tại. Điều quan trọng hơn là nhận diện giá trị, đánh giá thực trạng, xác định nguy cơ mất mát, nhu cầu bảo quản, khả năng số hóa và tiềm năng phát huy của từng nhóm tài liệu. Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ tổng thể về di sản tư liệu, tạo nền tảng cho những chính sách bảo tồn và phát huy giá trị phù hợp với thực tiễn.
Trên cơ sở khảo sát, cần từng bước hình thành một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó bảo tồn và phát huy giá trị phải đi cùng song hành.
Không phải mọi tài liệu đều có cùng giá trị, mức độ quý hiếm và nguy cơ bị tổn hại. Vì vậy, sau khảo sát cần tiến hành phân loại, đánh giá giá trị, xác định tình trạng vật lý và nguy cơ xuống cấp của từng nhóm tài liệu để có phương án bảo vệ phù hợp.
Đối với tài liệu có nguy cơ hư hỏng, cần ưu tiên các biện pháp bảo quản phòng ngừa, cải thiện điều kiện môi trường và tổ chức nơi lưu giữ; đồng thời thực hiện tu bổ kịp thời đối với những trường hợp cần can thiệp để hạn chế quá trình xuống cấp và kéo dài tuổi thọ cho tài liệu.
Đối với tài liệu đã bị hư hỏng, cần đánh giá mức độ và nguyên nhân hư hỏng để có phương án phục chế phù hợp, bảo đảm giữ gìn tối đa tính nguyên gốc, tính xác thực và những đặc điểm vốn có của tài liệu. Việc tu bổ, phục chế cần được thực hiện bởi người có chuyên môn, theo quy trình phù hợp và tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh những can thiệp không cần thiết có thể làm thay đổi giá trị lịch sử của tài liệu.
Đối với tài liệu được cơ quan có thẩm quyền công nhận là tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt, cần đặt yêu cầu bảo quản vĩnh viễn ở mức ưu tiên cao; đồng thời tạo lập bản sao dự phòng phù hợp nhằm tăng khả năng bảo vệ thông tin trước nguy cơ mất mát, hư hỏng hoặc những sự cố có thể xảy ra.
Bảo quản không chỉ là “giữ cho tài liệu còn nguyên”, mà là một quá trình nhận diện đúng - can thiệp đúng - bảo vệ đúng để phát huy đúng giá trị. Mỗi giải pháp đều phải xuất phát từ đặc điểm, tình trạng vật lý của tài liệu, điều kiện thực tế nơi lưu giữ và yêu cầu của pháp luật.
Cùng với đó, cần tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn để gia đình, dòng họ, cơ sở thờ tự và cộng đồng có thể chủ động tham gia bảo vệ di sản ngay tại nơi tài liệu đang được gìn giữ.
Có tài liệu cần được giữ nguyên, có tài liệu cần được tu bổ, có tài liệu cần được phục chế. Nhưng dù lựa chọn phương thức nào, mục tiêu cuối cùng vẫn là giữ lại được nhiều nhất có thể những giá trị chân thực mà lịch sử đã trao lại cho chúng ta.



Hình ảnh tu bổ sắc phong bằng phương pháp bồi nền thủ công
Hai là, số hóa có lựa chọn, có chuẩn mực và có trách nhiệm
Số hóa cần được triển khai theo lộ trình, căn cứ vào giá trị, tình trạng vật lý, nguy cơ xuống cấp và nhu cầu khai thác của từng nhóm tài liệu. Quá trình này cần gắn với chuẩn hóa thông tin mô tả, metadata, quy trình tạo lập, quản lý và lưu trữ dữ liệu; chú trọng chất lượng bản số, an toàn thông tin và khả năng tạo lập bản sao dự phòng.
Mục tiêu của số hóa không chỉ là tạo ra một bản sao điện tử mà là mở thêm một phương thức bảo quản, nghiên cứu và phát huy giá trị tài liệu trong không gian số.
Cần nghiên cứu khả năng kết nối dữ liệu giữa cơ quan lưu trữ, cơ quan văn hóa, cơ sở nghiên cứu, các tổ chức có liên quan và cộng đồng, từng bước hình thành mạng lưới thông tin về di sản tư liệu trên địa bàn.
Tuy nhiên, kết nối không đồng nghĩa với chia sẻ tùy tiện; số hóa không đồng nghĩa với công khai tất cả. Mọi hoạt động khai thác, chia sẻ cần bảo đảm an toàn thông tin, tôn trọng quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền riêng tư và những giới hạn tiếp cận theo quy định của pháp luật.
Tài liệu lưu trữ tư không chỉ là những gì cần được bảo quản trong tủ, trong kho hay trong các không gian lưu giữ truyền thống. Khi được nghiên cứu và phát huy đúng cách, đó còn là nguồn lực phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục truyền thống, xây dựng ký ức cộng đồng, phát triển văn hóa và quảng bá hình ảnh quê hương.
Trong kỷ nguyên số, những giá trị ấy có thêm cơ hội được giới thiệu, nghiên cứu và kết nối rộng rãi hơn, từng bước đưa di sản tư liệu của Ninh Bình đến với cộng đồng trong nước và quốc tế bằng những phương thức phù hợp, an toàn và đúng quy định.
Bên cạnh việc phát huy nguồn lực ưu tiên của Nhà nước, cần nghiên cứu huy động các nguồn lực hợp pháp khác từ tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, nhà khoa học và cộng đồng; khuyến khích các mô hình hợp tác phù hợp trong khảo sát, bảo quản, số hóa, nghiên cứu và phát huy giá trị tài liệu.
Trong quá trình ấy, cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải được nhìn nhận là một chủ thể quan trọng của bảo tồn, bởi chính cộng đồng là nơi ký ức được hình thành, gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ.
* Một nguyên tắc không thể bỏ qua đó là bảo tồn tài liệu lưu trữ tư không thể chỉ là câu chuyện của ngành lưu trữ. Đó phải là quá trình có sự tham gia của Nhà nước, cơ quan chuyên môn, nhà khoa học, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp công nghệ và đặc biệt là cộng đồng - những chủ thể đang trực tiếp sở hữu, quản lý và gìn giữ tài liệu.
* Mọi hoạt động khảo sát, thu thập thông tin, bảo quản, số hóa, khai thác và chia sẻ cần được thực hiện đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể lưu giữ, đồng thời bảo đảm sự đồng thuận của cộng đồng.
Bởi di sản tư liệu không chỉ có giá trị đối với người làm chuyên môn, với nhiều gia đình, dòng họ và cộng đồng, đó còn là ký ức, niềm tin, cội nguồn và căn tính văn hóa. Bảo tồn vì thế càng cần đi cùng với thấu hiểu, đối thoại và đồng thuận.
* Chuyển đổi số không có nghĩa là đưa tất cả tài liệu lên không gian mạng. Chuyển đổi số trong lưu trữ tư phải bắt đầu từ nhận thức đúng về giá trị, bảo vệ tính xác thực, tuân thủ pháp luật, bảo đảm an toàn và hướng tới khả năng phát huy giá trị. Một bản sao số có thể giúp ký ức đi xa hơn, nhưng sự bảo quản đúng cách mới giúp những giá trị nguyên gốc được gìn giữ bền vững.
Những giải pháp trên cũng cần được đặt trong yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đồng thời việc phát huy giá trị tài liệu cần được nhìn nhận trong tinh thần của Quyết định số 2194/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Công bố tài liệu lưu trữ quốc gia phục vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền đất nước”, qua đó khẳng định vai trò của tài liệu lưu trữ không chỉ trong bảo tồn ký ức lịch sử mà còn trong cung cấp nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu, hoạch định chính sách và phát triển xã hội.
Theo đó, bảo tồn và phát huy tài liệu lưu trữ tư không chỉ là nhiệm vụ gìn giữ những giá trị thuộc về quá khứ mà còn là quá trình biến di sản tư liệu thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai; góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, tạo lập và kết nối dữ liệu, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức. Đồng thời đưa những giá trị lịch sử, văn hóa của cộng đồng vào đời sống đương đại trong bối cảnh chuyển đổi số. Khi được bảo tồn đúng cách, số hóa có trách nhiệm và công bố, khai thác phù hợp với quy định của pháp luật và sự đồng thuận của chủ thể lưu giữ, tài liệu lưu trữ sẽ không chỉ được “giữ lại” mà còn thực sự được “đánh thức” để tiếp tục tạo ra giá trị cho xã hội.
Đối với Ninh Bình, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa khi địa phương đang đứng trước cơ hội phát huy mạnh mẽ những giá trị đặc sắc được bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử.
Một cuộc khảo sát toàn diện về tài liệu lưu trữ tư trên địa bàn tỉnh, trong đó tiếp tục nhận diện đầy đủ những giá trị được kế thừa từ Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, sẽ không chỉ giúp xác định những gì đang được lưu giữ mà còn giúp chúng ta trả lời một câu hỏi quan trọng hơn: “Ninh Bình đang có trong tay những nguồn lực ký ức nào để kể câu chuyện của mình với thế hệ hôm nay, mai sau và với bạn bè quốc tế?”
Một Ninh Bình hướng tới đô thị di sản thiên niên kỷ không chỉ được nhận diện bằng những di tích, danh thắng, công trình hay cảnh quan hiện hữu. Chiều sâu của một đô thị di sản còn nằm trong những câu chuyện được lưu giữ bởi mỗi cộng đồng, mỗi gia đình, mỗi dòng họ và trong từng trang tài liệu đã đi qua thời gian.
Mỗi sắc phong, mộc bản, gia phả, thần tích, bia đá hay văn bản cổ được nhận diện, bảo vệ và phát huy đúng cách không chỉ là một tư liệu được gìn giữ mà còn là một mảnh ghép góp phần làm nên ký ức và bản sắc Ninh Bình.
Từ một công trình nghiên cứu đến một cuộc khảo sát toàn diện, từ những tài liệu đang nằm trong các gia đình, dòng họ, cơ sở thờ tự đến một hệ thống dữ liệu được bảo quản, số hóa và kết nối phù hợp - đó là một hành trình dài.
Nhưng nếu hành trình ấy được bắt đầu bằng khoa học, trách nhiệm, pháp luật và sự đồng thuận của cộng đồng, những di sản tư liệu tưởng như lặng im sẽ tiếp tục có một đời sống mới trong xã hội hiện đại.
Giữ một trang tài liệu là giữ một phần ký ức. Số hóa một di sản tư liệu là mở thêm một cánh cửa cho tương lai. Phát huy đúng giá trị của tài liệu lưu trữ là để ký ức tiếp tục đồng hành cùng sự phát triển.
Từ nghiên cứu đến thực tiễn, từ bảo tồn đến chuyển đổi số, từ ký ức cộng đồng đến nguồn lực phát triển, đó cũng là hành trình để lưu trữ góp một phần thiết thực vào phát triển văn hóa Việt Nam, thúc đẩy chuyển đổi số và kiến tạo Ninh Bình trở thành một đô thị di sản thiên niên kỷ giàu bản sắc; nơi quá khứ không chỉ được gìn giữ mà còn tiếp tục tạo giá trị cho hiện tại và tương lai./.
[1] Đinh Thị Khuyên, Vũ Thị Kim Cúc (2026), Tài liệu lưu trữ có giá trị tại các cơ sở thờ tự ở tỉnh Ninh Bình và một số đề xuất khoa học, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Lưu trữ tư trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế, ký ức xã hội và sự tham gia của các tổ chức", Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, ISBN: 978-632-608-974-5, tr.436–457.
Đinh Khuyên - LƯU TRỮ LỊCH SỬ TỈNH NINH BÌNH
Trực tuyến: 28
Hôm nay: 1122